Giới luật – sự kết tập và truyền thừa

Giới luật được Đức Phật ban hành theo các sự việc thực tế trong quá trình tu tập của tăng đoàn. Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn thì mới được kết tập và truyền bá.

I. KẾT TẬP GIỚI LUẬT

Căn cứ theo bộ Đàm Vô đức, sau khi đức Thế tôn thành đạo, vào đầu năm thứ 13 thì giới luật xuất hiện . Giới luật được Thế tôn kịp thời ban hành khi trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của Tăng đoàn phát sinh những vụ việc làm ảnh hưởng đến 3 phương diện quan trọng.

1. Trở ngại con đường giải thoát và quả chứng
2. Tổn thương đến sự hòa hợp và an lạc của Tăng đoàn
3. Gây sự chê bai, hủy báng hay làm mất niềm tin đối với quần chúng.

Trong khoảng thời gian hơn 30 năm chế định giới luật cho hàng Tỳ kheo, chủ ý của đức Thế tôn trước sau vẫn không ngoài 3 phương diện nói trên ( Tỳ kheo: 250 giới, Tỳ kheo ni: 348 giới và các kiền độ….).

Ngày đức Thế tôn nhập Niết bàn ở rừng Câu Thi Na, tôn giả Ca Diếp chưa hay tin nên định dẫn đồ chúng về đảnh lễ đức Thế Tôn. Trên đường về, nghe tin, các Tỳ kheo còn trong bậc hữu học không chịu đựng nỗi mất mát lớn lao này nên khóc lóc than thở, có thầy ngã lăn ra đất bất tỉnh. Khi ấy, thầy tỳ kheo tên Bạt nan đà(upnanda) cũng có mặt, chợt vô ý thức phát biểu : “ lúc này chúng ta nên vui mừng chứ sao lại khóc lóc như thế. Như lai đã nhập diệt rồi, khỏe, chúng ta từ nay được tự do khỏi bị câu thúc hay ức chế gì nữa, muốn làm gì thì làm, mặc sức.”. Nghe những lời vô trí của tỳ kheo ấy, tôn giả Ca Diếp xót xa, lo lắng từ nay vắng bóng đức Đạo sư, không biết kỷ cương phép tắc của tăng chúng sẽ ra sao nữa ?

Sau lễ trà tỳ Thế tôn, tôn giả Ca Diếp vội trở về thành Vương xá, đến hang Tất Bát la, triệu tập các thầy Tỳ kheo lại để cùng nhau kết tập luật tạng. Khi đó là lúc trời mùa hạ, thời trị vị của vua A Xà Thế.

Đại hội kết tập thỉnh tôn giả Ưu Ba ly đọc lại toàn bộ giới luật trước sau 80 lượt nên có tên là Bát thập tụng luật. Thành phần tham dự là 500 vị tỳ kheo đã phá hết kiết sử, chứng A la hán nên gọi là Ngũ bá kết tập. Lần kết tập đầu tiên này toàn thể chúng hội đều nhất trí giữ nguyên vẹn những gì mà đức Thế tôn đã chế tác, không thêm không bớt. Tuy nhiên, có thể tùy theo từng địa phương, từng hoàn cảnh mà linh động châm chước những điều nhỏ nhặt.(Luật ngũ phần, quyển 22).

II. TRUYỀN THỪA GIỚI LUẬT

SỰ TRUYỀN THỪA

Bộ luật Bát thập tụng được truyền thừa một cách nhất quán trong khoảng thời gian 100 năm sau khi Phật Niết bản bởi 5 vị tổ: Ca diếp, A nan, Mạt điền địa, Thương nan hòa tu và Ưu ba cúc đa. Sau đó có 5 vị đệ tử của tổ Ưu ba cúc đa từ Bát thập tụng luật châm chước lập ra 5 bộ:

1 – Bộ đàm vô đức truyền luật Tứ phần

2 – Bồ-tát bà đa truyền luật Thập tụng

3 – Bộ Ca diếp di truyền luật Giải thoát

4 – Bộ Di sa tắc truyền luật Ngũ phần

5 – Bộ Bà ta phú la truyền luật Ma ha tăng kỳ.

Năm bộ luật này tuy có khác nhau về chi tiết, văn có rộng, lược hoặc những điều khai giá giải thích không đồng nhất, song về mặt đại thể, những giới trọng đều giống nhau. Tất cả những điều giới do đức Phật nói ra, y theo đó hành trì đều được giải thoát.

Đức Phật huyền ký :

* Có một vị trưởng giả nằm mộng thấy một khúc vải trắng bỗng đứt thành 5 đoạn. Vị trưởng giả ấy liền đem việc này hỏi Phật, Phật giải thích đây là điềm báo sau khi Ngài diệt độ luật tạng sẽ chia thành 5 bộ phái (Xuất tam Tạng ký tập, Quyển 3)

Lúc Phật thành đạo 38 năm, có một hôm đến cung vua tho trai, sai La Hẩu La rửa bát. La Hầu La vô ý để rơi bình bát làm vỡ thành năm mảnh. Các thầy Tỳ Kheo hỏi Phật, Phật cho biết sau khi Ngài diệt độ khoảng chừng hơn 100 năm, các thầy Tỳ Kheo sẽ chia luật thành 5 bộ.

LUẬT TẠNG TRUYỀN SANG TRUNG QUỐC

Giới luật được truyền sang Trung Quốc từ triều Tào Ngụy, đời Tam Quốc, năm 250 sau công nguyên, do tôn giả Đàm Ma Ca La người Trung Thiên Trúc ở chùa Bạch Mã tại Lạc Dương dịch bọ Tăng Kỳ Giới Tâm và Tứ Phần Yết Ma đầu tiên.

Các bộ Quảng Luật gồm có:

1. Luật Thập Tụng: 61 quyển, Phất Nhã Đa La và La Thập dịch vào đời hậu Tần (406 – 410).

2. Luật Tứ Phần 60 quyển, Phất Đà Da Xá và Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần (410 – 413).

3. Luật Ma Ha Tăng Kỳ: 40 quyển, Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển dịch vào đời Đông Tấn (418).

4. Luật Ngũ Phần: 30 quyển, Phật Đà Thập và Trúc Đạo Sanh dịch vào đời Lưu Tống (423).

5. Giới Kinh Giải Thoát: 1 quyển, Phất Nhã Lưu yChi dịch vào đời Nguyên Ngụy (538 – 544).

6. Luật Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da: 50 quyển, Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường (700 – 711).

Ngoài các bộ Quảng luật ra, còn có 5 bộ luận giải thích các bộ luật kể trên, như:

Tỳ Ni Mẫu, 8 quyển

Ma Đắc Lặc Gìa, 10 quyển

– Thiện Kiến luận hay Thiện Kiến luận Tỳ Bà Sa, 18 quyển

– Tát Bà Đa luận hay Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa, 9 quyển

– Minh Liễu luận hay luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu luận, 1 quyển.

Trong các bộ quảng luật trên, chỉ có bộ Tứ Phần của Đàm Vô Đức truyền bá rộng rải và chú, sớ, thích rất nhiều.


About Đoàn, Thoại MD 3179 Articles
Cứu rỗi trong Phật giáo là chia sẻ cho người khác biết phương cách (đã được Phật Thích Ca chỉ dẫn cách đây hơn 2500 năm) để người đó tự cứu rỗi bản thân và cuối cùng đạt Giác Ngộ. Người Giác Ngộ là người đã loại trừ các phiền não trong tâm. Không một ai, kể cả Đức Phật, có thể giúp một người lấy đi phiền não của họ. Phiền não của mỗi người phải được tự mỗi người dứt trừ bằng sự nỗ lực tu tập theo con đường mà họ đã chọn.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*